Tư vấn căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 

0
37

Tư vấn căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 

Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định các căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự bao gồm 2 nhóm: các sự kiện phát sinh sau khi thụ lý vụ án và các căn cứ trả lại đơn khởi kiện mà Tòa án đã không phát hiện ra khi thụ lý vụ án (sau khi thụ lý mới phát hiện).

Nhóm 1: Các sự kiện phát sinh sau khi thụ lý

Các căn cứ đình chỉ do đối tượng cần được giải quyết trong vụ án không còn tồn tại:

– Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế;

Các quyền, nghĩa vụ không được thừa kế được hiểu là các quyền, nghĩa vụ gắn liền với nhân thân và không thể chuyển giao cho người khác.

– Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó;

– Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện

Trong trường hợp rút đơn khởi kiện, Tòa án cần phải xem xét vụ án có yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền, nghĩa vụ liên quan không. Nếu có mà các đương sự này không rút yêu cầu thì Tòa ra quyết định đình chỉ với yêu cầu của người khởi kiện đã rút, trong trường hợp các đương sự đều rút yêu cầu thì Tòa án ra quyết định đình chỉ toàn bộ vụ án.

Căn cứ đình chỉ do đối tượng cần được giải quyết trong vụ án được suy đoán là không còn tồn tại:

– Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan;

Nguyên đơn là người được giải thiết có quyền hoặc lợi ích bị xâm phạm hay tranh chấp, nên họ phải có mặt để Tòa án bảo vệ quyền lợi của mình. Nếu nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt thì được suy đoán là không quan tâm hoặc từ bỏ lợi ích. Vì vậy, Tòa án phải đình chỉ giải quyết vụ án.

– Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó;

Yêu cầu của bên có quyền đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đang được giải quyết trong vụ án dân sự sẽ được giải quyết trong trình tự phá sản cùng các yêu cầu của các chủ nợ khác, nhằm đảm bảo quyền lợi của tát cả các chủ nợ, tránh tình trạng 1 chủ nợ được thanh toán nhiều hơn so với phần mà chủ nợ đó lẽ ra được nhận trong thủ tục phá sản.

– Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này.

Trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

– Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết;

Nhóm 2: Các căn cứ trả lại đơn khởi kiện mà Tòa án đã không phát hiện ra khi thụ lý vụ án

Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau đây:

  1. a) Người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 186 và Điều 187 của Bộ luật này hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;
  2. b) Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật có quy định về các điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó;

  1. c) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại;
  2. d) Hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 195 của Bộ luật này mà người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng;

đ) Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;

  1. e) Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 193 của Bộ luật này.

Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung. Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện không ghi đầy đủ, cụ thể hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không sửa chữa, bổ sung theo yêu cầu của Thẩm phán thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện;

  1. g) Người khởi kiện rút đơn khởi kiện.”

Trên đây là nội dung quy định về căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.  Mọi thắc mắc hay có nhu cầu tư vấn về hồ sơ thành lập công ty xin vui lòng liên hệ về Công ty TNHH Tư vấn Luật LawKey Việt Nam để được tư vấn một cách nhanh nhất.

 

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.